Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

GIỚI THIỆU NÚI BẰNG TRÌNH VÀ CHÙA THÁI BÌNH, XÃ THIỆU HỢP, HUYỆN THIỆU HÓA, THANH HÓA

 
Núi Bằng Trình - Chùa Thái Bình nằm trong quần thể di tích thắng cảnh Bàn A Sơn nổi tiếng của xứ Thanh và cả nước. Đã có nhiều sách của người xưa của Việt Nam và Trung quốc chép về vùng đất này như là một miền hội tụ tiêu biểu của lịch sử, thắng tích vùng tam giác hạ lưu của châu thổ sông Mã, sông Chu. Sự phân bố của cụm di tích thắng cảnh trước đây ở xã Đại khánh ( Huyện Thiệu Hóa ) ở hai bờ của sông Chu; Ngày nay nó thuộc địa phận hai xã Thiệu Khánh và Thiệu Hợp của huyện Thiệu Hóa. Từ năm 1990 thắng cảnh Bàn A Sơn đã được xếp hạng là di tích thắng cảnh. Di tích có tên gọi là núi Bằng Trình và chùa Thái Bình - Tên gọi thống nhất được chép trong sử sách ít nhất từ thời vua Lê Huy Tông ( 1680 - 1705 ).
 
Núi Bằng Trình là ngọn núi đá có hình thù và màu sắc rất đẹp nổi lên ở vùng đồng bằng hạ lưu sông Chu sông Mã, nó kết hợp với núi Vồm ( còn gọi là núi Bàn A ) ở xã Thiệu Khánh để tạo nên vùng thắng tích nổi tiếng đã được các bậc vua chúa và danh sĩ thời xưa cũng như ngày nay “ Du ngoạn và nhã thú ”. Vì vậy khi nói đến Bằng Trình không thể tách rời thắng cảnh Bàn A Sơn.
 
Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng như sách Đồng Khánh Địa dư chí khi viết về vùng này đều gọi quần thể di tích này làm một để tạo nên vùng thắng cảnh rộng lớn và hoàn chỉnh với mười cảnh đẹp.
 
Về núi Bàn A Sơn: Ở cửa sông Lương Giang thuộc xã Đại Khánh, nữa ngọn bên trái qua chỗ vách đá trên bờ sông làm thành núi Bằng Trình, nữa bên phải án ngữ trên bờ có tảng đá chắn ngang ra, dưới chân đá nước chảy sóng cuộn, trên ngọn cao vách dựng cheo leo. Cách mặt đất hơn một trượng có tảng đá vuông ngồi vừa một người. Vua Lê Hiến Tông từng lên chỗ đây, gọi là “ Lâm tuyền ẩn thế ” ( Nơi ẩn của khách lâm tuyền ). Cuối đời Lê, Hiến Sát Sừ [ Thanh Hoa ] Ngô Thì Sĩ khắc trên chỗ hõm ở bờ đối diện bên kia 3 chữ lớn Bàn A Sơn để gọi tên núi, lại đặt tên cho hõm đá đó là Quan Lan Sào ( Cái tổ để ngồi xem sóng ) và sáng tác Quan Lan Thập Vịnh ( 10 bài vịnh xem sóng ) khắc vào vách đá. Tên 10 bài vịnh: 1. Khách Bằng Liệt Chướng ( núi Bằng Trình ở xã Đại Khánh dàn hang ), 2 Lương Mã Sông Phàm ( Hai cánh buồm trên sông Lương Giang và sông Mã ), 3 Thạch Tượng Dục Hà ( Voi đá tắm sông ), 4 Lĩnh Quy Xuất Thủy ( Rùa đá nhô lên mặt nước ), 5 Cổ Độ Kỳ Đình ( Đình cờ bến cổ ), 6 Viễn Sầm Yên Thụ ( Cây mờ núi xa ), 7 Cô Sơn Mao Xá ( Nhà tranh núi vắng ), 8 Cách Ngạn Thời Lâm ( Rừng thiền cách sông ), 9 Sơn Hạ Ngư Ky ( Ghênh chài chín núi ), 10 Giang Trung Mục Phố ( Bãi tắm trâu giữa sông ).
 
Phía dưới bên phải núi có ngôi chùa, gọi là chùa Đại Hùng ( Còn gọi là chùa Vồm ). Chùa này xếp đá làm vách, giữa có pho tượng Phật nét mặt uy nghiêm, thân phật lấp loáng khi ẩn khi hiện trước chùa và có bia khắc vào niên đại Quang Thuận ( 1460 - 1469 ) đời Lê Thánh Tông ( Cách chúng ta hiện nay hơn 500 năm ).

Mười cảnh đẹp nêu trên đã quy quần, hội tụ ở hai bờ sông Chu mà các sử gia và danh sĩ xưa đã gọi là Bàn A Sơn Thập Cảnh, và trong 10 cảnh đẹp đó có núi Bằng Trình được gọi là “ Khánh Bằng Liệt Chướng ”.

Về núi Bằng Trình: Còn gọi là núi Thái Bình ( Tên nôm gọi là núi Trịnh ) thuộc làng Bằng Trình, huyện Thụy Nguyên là một ngọn núi đứng riêng bên phải dựa vào núi Bàn A, phía trước nhìn xuống dòng sông Mã, hình núi kì lạ đẹp đẽ, phong cảnh thật thanh nhã ( Đồng Khánh địa dư chí ). Còn sách lịch triều hiến chương loại chí thì lại chép: Núi Bàn A xã Đại Khánh, huyện Đông Sơn, núi rất cao mà lại cong co uốn éo, thâm nghiêm và rộng thoáng đáng ưa. Trông xuống thì sông Lương ở liền chân núi.
Một dải núi bên dãy gọi là dãy Na Sơn, một giải núi huyện Thủy Nguyên chạy xuống là núi Thái Bình ( Tên núi Bằng Trình ), sông Mã chảy đến đây hợp lại. Hai sông chắn ở phía trước, hai núi ôm lại, cảnh trí rất thoáng rộng.
Quan sát trên thực địa thấy núi Bằng Trình nằm bên Tả sông Chu, án ngữ những điểm nút, ngã ba của xã Thiệu Hợp, Thiệu Dương, Thiệu Khánh, ngã ba của sông Chu, sông Mã, hai con sông lớn nhất của tỉnh Thanh Hóa cùng với núi Vồm ( Núi Bàn A ), núi Đọ ( Thiệu Tân ) tạo ra thế chân kiềng vững chãi.

Về mặt địa lý, núi Bằng Trình chiếm không gian không lớn, đường chân núi có hình e líp ngang dài gần 1km, nhưng có cấu tạo địa chất đặc biệt, theo các nhà địa chất thì cách đây 250 - 260 triệu năm ( khoa học gọi là kỷ pecnic ) một dòng dung nham trong lòng đất có nhiệt độ, áp suất rất lớn đã phun trào, dòng dung nham nguội đã tạo khối đá màu trắng, màu hồng, màu tím và màu vàng long lánh gần như đá quý rubi ….

Núi Bằng Trình là một ngọn núi độc lập đứng bên tả ngạn của sông Chu. Dưới chân núi có chùa Thái Bình, cửa chùa trên đỉnh núi đối diện với núi Bàn A đã tạo nên cảnh đẹp khánh bằng liệt chướng. Khánh bằng liệt chướng là núi đá Bằng Trình giăng hàng, núi này đối diện với núi Vồm và cùng chung một dải, tạo nên cảnh hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên Bàn A Sơn.

Về mặt lịch sử, từ thời Hai Bà Trưng, sau khi chiếm được huyện lỵ Dư Phát, Mã Viện đã đưa quân thuỷ bộ, ngược sông Lèn rồi theo đường sông Mã đến ngã ba đầu ( Nơi hợp lưu của sông Mã và sông Chu ) để tấn công Tư Phố ( Làng Giàng, Thiệu Dương ) với ý đồ là tiêu diệt bằng được lực lượng quan trọng của nghĩa quân, nơi mà Cừ Suý Cửu Chân là Chu Bá đang đóng giữ, khi đến núi Bằng Trình, quân Mã Viện đã phải đương đầu với lực lượng chính của nghĩa quân tại núi này.

Kết quả nghiên cứu khảo cổ về thời kỳ Hai Bà Trưng đã có kết luận về trận quyết chiến chiến lược này. Sưu tập hiện vật ở núi Bằng Trình khá phong phú với đủ các chất liệu như đồ đá, đồ đồng và đồ sắt. Đặc biệt đã tìm thấy 33 mũi tên đồng gồm hai loại, loại có họng và loại có chuôi, riêng loại có chuôi chiếm hơn 80% tổng số mũi tên được phân thành 3 nhóm với nhiều kiểu dáng và kích thước khác nhau, nhiều chiếc đã bị cong, bị sứt mũi hoặc gãy chuôi, tất cả đều nằm vùi cùng một hướng, rãi rác trên sườn phía Đông nam núi Bằng Trình.

Như vậy một thực tế lịch sử, những mũi tên này được sản xuất từ nhiều vùng khác nhau của đất nước và đã theo chân các dân binh Lạc Việt vào trận đánh quan trọng này. Cũng ở địa điểm núi Bằng Trình, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy rất nhiều tàn tích chiến tranh khác như mảnh xương sọ, xương ống chân, ống tay người .. kết hợp với nhiều nguồn tư liệu khác như khảo cổ học, địa lý học, lịch sử, thư tịch cổ … nhiều nhà nghiên cứu đã có những nhận định thống nhất khi nói về trận này ở núi bằng trình “ Lịch sử Thanh hoá tập 2 NXB KHXH- Hà nội 1994, tr 30 ”.

Về Chùa Thái bình: Là ngôi chùa nổi tiếng được ghi chép trong các sách địa chí trước đây như sách Lịch Triều Hiếng Chương Loại Chí ( Tập 1 ) của Phan Huy Chú, sách Thanh Hoá Tỉnh chí, sách Đồng Khánh Địa Dư Chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, sách Tự Điển Di Tích Văn Hoá Việt Nam của nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội 1993. Các sách đều thống nhất chép về ngôi chùa như sau:

Chùa được xây dựng vào khoảng niên hiệu Chính Hoà ( 1680 - 1705 ) đời Lê Huy Tông trên Núi Bằng Trình thuộc làng Bằng Trình, huyện Thuỵ Nguyên, tỉnh Thanh Hoá. Chùa nhìn ra sông Lương, sau chùa có hang đá thông suốt từ Đông sang phía Tây, có sức chứa tới trên 500 người. Cạnh chùa có tháp Cửu Phẩm Liên Hoa nhưng đã bị sụp đổ.

Tĩnh Vương Trịnh Sâm đã có thơ vịnh cảnh chùa:

Phiên âm:

Sơn thuỷ hồi hoàn giác hữu tình,

Luân Huân thuỵ khí uỷ Bằng Trình

Nhất điều thạch khiếu thông tà kính

Cửu phẩm kim đài ỷ tiểu bình

Thiên thị nhân quy sơ nguyệt thướng

Ngư than kích độ vãn trào sinh

Thử lai chính nghĩ trường phong thuỷ,

Thần bạch tùng xa tụng Thái Bình

Dịch:

Non nước quanh co thật hữu tình

Khí lành cuộn thổi bước hành trình

Hang đá mở thông con đường dối

Đài sen tựa vách núi chênh vênh

Người về xóm chợ trăng non mọc

Thuyền ghé bãi sông nước triều dềnh

Xem ra cảnh vận dường tươi đẹp

Theo xe trẻ hát ngợi Thái Bình

( Bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên ).

Về quy mô ngoài chùa chính là nơi thờ Phật, chùa còn có cả tháp Cửu Phẩm Liên Hoa đây là một công trình quy mô to lớn. Hiện tại từ năm 2002 đến nay một phần nhỏ diện mạo được nhân dân địa phương trong vùng dựng lại cụ thể:

Hậu cung chùa chính: Có diện tích 25,38 m2, cấu trúc vì kèo đơn giản, không có gì đặc biệt, thờ có ba pho tượng tam thế, pho tượng Đức Phật Như Lai, pho tượng phật Thích Ca đứng trong tòa cửu long, pho tượng Quan Âm, pho tượng Đức Ông, bên cạnh hệ thống tượng Phật, trong chùa còn lưu giữ một số hiện vật quý giá như bát hương đồng cổ, niên đại có phong cách nhà Lê, bát hương gốm niên đại có lẽ là đầu thế kỷ XX, bát hương đá, đề tài trang trí, kiểu dáng cho biết có niên đại thời Lê.

Nhà thờ mẫu: Có diện tích 24m2, có sân, tiền đường, hậu cung, tượng thờ có ba pho tượng Tam Tòa Thánh Mẫu.

Các hệ thống bia đá, đá phiến, đá chân cột … đang được bảo quản riêng và chờ các nhà học giả nghiên cứu tiếp.

Như vậy cho dù quy mô rất đơn sơ sau từ năm 2002 đến nay, chùa Thái Bình xưa không còn nữa, nhưng những gì trong sử sách, thi ca ghi chép và ca tụng về cảnh trí của khu vực này thì vẫn còn mãi mãi, ngôi chùa đã cùng với núi Bằng Trình thắng tích và lịch sử làm nên một “ Khánh Bằng Liệt Chướng ” một trong 10 cảnh đẹp của thắng cảnh Bàn A Sơn nổi tiếng. Và giờ đây hơn những gì nhân duyên đã đến, sư thầy cùng các cấp chính quyền, tỉnh hội phật giáo, các quý phật tử gần xa, đã và đang xây dựng lại ngôi chùa để đúng với tầm vóc vốn có, góp phần tô đẹp ngôi nhà phật giáo Việt Nam.

Copyright @ 2013 Quê hương Thiệu Hóa.